Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

Công ty cổ phần giấy Lửa Việt : Lằng nhằng trong việc khắc phục ô nhiễm

Công ty CP Giấy Lửa Việt ngụ tại thị trấn Hạ Hòa, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ đang trở thành 1 điểm đen gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng trong 1 thời gian dài , hiện công ty vẫn chưa có giải pháp triển khai xử lý triệt để ô nhiễm gây ảnh hưởng tới môi trường và sự bức xúc của người dân.

Ô nhiễm hơn 10 năm vẫn không khắc phục!

Công ty cổ phần Giấy Lửa Việt (công ty) là một trong các đơn vị sản xuất phải thực hiện triển khai các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để theo Quyết định số 64/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo quyết định này, công ty phải cải tạo hệ thống xử lý nước thải, khí thải trong giai đoạn 2003 – 2006. Tới nay, đã hơn 10 năm trôi qua nhưng công ty vẫn không thực hiện nghiêm túc và hoàn thành nhiệm vụ theo quyết định của Thủ tướng, mặt khác hoạt động sản xuất của công ty vẫn gây ra những ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe người dân sống xung quanh.

Một thời gian dài Công ty cổ phần Giấy Lửa Việt trong quá trình sản xuất đã xả nước thải không xử lý trực tiếp ra sông. Còn tại khu dân cư, hoạt động sản xuất của công ty cũng làm phát thải khói bụi quá nhiều có những lúc thành sương mù nặng, đặc biệt là máy nghiền gỗ hoạt động liên tục đến 10h đêm phát ra tiếng ồn quá lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống và sức khỏe của người dân. Tình trạng này khiến một số hộ dân tại Khu dân cư số 9, thị trấn Hạ Hòa, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ bức xúc.


Đường vào xưởng sản xuất ngổn ngang các loại chất thải. (Ảnh: Báo Tài nguyên & Môi trường)

Liên quan tới vấn đề này, Tổng cục Môi trường đã tiến hành thanh, kiểm tra và tại Văn bản số 226/KLKTr – TCMT ngày 16/3/2015 do Thứ trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường ký ban hành về kết luận kiểm tra về bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần Giấy Lửa Việt cho thấy, lượng nước công ty phục vụ sản xuất là 40 m3/ngày đêm được khai thác từ nguồn nước mặt tại khu vực Đầm Ao Châu. Tuy nhiên công ty chưa có giấy phép khai thác nước mặt và giấy phép xả thải vào nguồn nước. Điều này đồng nghĩa với việc bao nhiêu năm qua, công ty đã thực hiện hành vi khai thác và xả thải trái phép với quy định.

Cũng tại văn bản này cho biết, việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của công ty chưa hoàn thiện đầy đủ. Công ty đã được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt Báo cáo dtm tại Quyết định số 2018/QĐ ngày 8 tháng 7 năm 2003, triển khai thay đổi công nghệ, nâng cấp máy móc, thiết bị, công trình xử lý chất thải… nhưng chưa thực hiện điều chỉnh hồ sơ đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thực hiện chương trình giám sát môi trường 1 lần vào tháng 9/2014, không đầy đủ về tần suất quan trắc theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt. Nước thải của công ty được xử lý sơ bộ bằng phương pháp lắng chìm, điều chỉnh pH, với công suất 60 m3/ngày không đúng theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt về công suất và quy trình công nghệ là 3.460 m3/ngày; nước thải phải đi qua song chắn rác tới bể điều hòa, bể lắng bộ, bể đông keo tụ, bể lắng đứng, bể aroten, bể tiêu hủy bùn. Ngoài ra công ty còn chưa hoàn thiện hồ sơ xin điều chỉnh lượng chất thải nguy hại theo yêu cầu của Sở TN&MT Phú Thọ.

Căn cứ vào các vi phạm hành chính của công ty, Tổng cục tưởng Tổng cục Môi trường đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 188/QĐ – XPVPHC ngày 16/2/2015 lên tới 200 triệu đồng và buộc công ty phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong 06 tháng.

Phớt lờ pháp luật đến bao giờ?

Để làm rõ những kiến nghị của người dân và việc chấp hành công tác bảo vệ môi trường của Công ty cổ phần Giấy Lửa Việt, ngày 23/4/2015 Sở TN&MT Phú Thọ đã phối hợp với UBND huyện Hạ Hòa, UBND thị trấn Hạ Hòa tiến hành kiểm tra thực địa tại công ty. Tại thời điểm đoàn kiểm tra, công ty đang hoạt động bình thường và vẫn chưa khắc phục những lỗi vi phạm như kết luận của Tổng cục Môi trường. Qua kiểm tra, đoàn cũng xác định việc phát tán bụi thải, khu vực có chứa mùn dăm gỗ đã có mái che nhưng chưa có che chắn xung quanh. Công ty chưa hoàn thành các quy trình xử lý môi trường, chưa có giấy xác nhận đã hoàn thành các biện pháp xử lý môi trường đã đi vào hoạt động sản xuất. Thực tế tại nơi sản xuất cũng cho thấy ,xưởng sản xuất xeo số 8 nước thải chưa được thu gom triệt để, vẫn thải trực tiếp ra môi trường, việc xử lý khói bụi và tiếng ồn vẫn chưa được khắc phục. Ngoài ra, việc thu gom và phân loại chất thải nguy hại chưa đúng theo quy định, vệ sinh công nghiệp chưa đảm bảo theo quy định.

Để tìm hiểu cụ thể công tác khắc phục ô nhiễm từ phía Công ty, phóng viên đã liên hệ trực tiếp với đơn vị này nhưng không nhận được sự hợp tác. Đại diện của công ty là bà Nguyễn Thị Hải Anh, người được ủy quyền tiếp phóng viên đã ngăn cản, không cho phóng viên vào trong xưởng sản xuất vì lý do…an toàn. Tuy nhiên, công ty vẫn đang tiến hành các hoạt động sản xuất ngay phía ngoài cổng. Khói bụi và tiếng ồn vẫn phát ra tại khu vực gần dân cư. Khu vực chứa mùn dăm gỗ theo yêu cầu cần che chắn xung quanh nhưng chưa được công ty thực hiện. Tại sân khu vực ngay cổng vào tại xưởng sản xuất việc thu gom chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại vẫn còn ngổn ngang chưa đúng quy định.

Đặc biệt, theo phản ánh của Sở TNMT, việc nộp phạt theo văn bản kết luận của Tổng cục Môi trường là 200 triệu đồng hiện công ty vẫn chưa thực hiện nghiêm túc và đầy đủ. Ngoài ra theo điều tra của phóng viên, còn một lượng nước thải lớn chưa qua xử lý của công ty này chảy qua hệ thống cống ngầm ra địa phận dân cư thuộc thị trấn Hạ Hòa gây ảnh hưởng tới cuộc sống người dân và môi trường.

Như vậy, Trong thời gian dài Công ty Cổ phần Giấy Lửa Việt đã không thực hiện nghiêm túc các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường trong giai đoạn 2003 – 2006 theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng tại Quyết định 64/2003/QĐ -TTg và hoàn thành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Không những thế phía công ty tiếp tục hoạt động và có hành vi xả thải nước thải, ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe người dân thị trấn Hạ Hòa. Các cơ quan chức năng của tỉnh Phú Thọ cần thực hiện biện pháp quyết liệt hơn nữa đối với cơ sở gây ô nhiễm quá lâu này.

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

14 triệu đô la có thể trở thành đống phế liệu

Quảng Bình đang mắc nhiều vấn đề khi vi phạm quyết định 2081 của thủ tướng chính phủ khi cố tình để dự án điện lưới chồng lên dự án điện pin mặt trời.



Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đã ký quyêt định 2908, phê duyệt xây dựng công trình cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia với số vốn lên tới 368 tỉ đồng vào ngày 14/11/2014 .

Điều bất thường, một dự án lớn, thuộc nhóm B, trải rộng trên nhiều địa hình phức tạp, nhưng Quyết định phê duyệt đã không căn cứ vào một báo cáo tác động môi trường nào của cơ quan chức năng. Đặc biệt, dự án kéo điện lưới này có hơn 50km đi qua vùng lõi của rừng đặc dụng Phong Nha - Kẻ Bàng và Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng.

Việc “quên” báo cáo tác động đtm ở một vùng nhạy cảm như Phong Nha - Kẻ Bàng trước khi ký phê duyệt dự án của ông Nguyễn Hữu Hoài đã vi phạm nghiêm trọng Nghị định 29, quy định về đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo tác động đtm, cam kết bảo vệ môi trường.

Theo đó, trong bản Danh mục các dự án phải lập báo cáo tác động đtm thì “Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên; vườn quốc gia; khu di tích lịch sử - văn hóa; khu di sản thế giới; khu dự trữ sinh quyển; khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng” chỉ đứng thứ 2, sau “Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội; thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ”. Và Quyết định phê duyệt báo cáo tác động đtm là căn cứ để quyết định đầu tư dự án.

Ngoài ra, kéo điện lưới đi qua Phong Nha - Kẻ Bàng sẽ vi phạm Hiệp ước 1972 về bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới của UNESCO mà Việt Nam là một trong các thành viên tham gia. Quảng Bình đã ra một quyết định xâm hại đến di sản nhưng không tham khảo ý kiến của đại diện UNESCO tại Việt Nam.

Phải chăng việc bỏ qua báo cáo tác động đtm là nhằm tránh né vấn đề nhạy cảm khi xâm hại gần 90 ha rừng đặc dụng và di sản Phong Nha - Kẻ Bàng? Trả lời vấn đề này, ông Phan Văn Thường, Giám đốc Sở Công Thương cho rằng, Dự án kéo điện lưới trải rộng trên địa bàn toàn tỉnh, lại triển khai từ đây đến năm 2020, nên chỉ cần cam kết bảo vệ môi trường với các địa phương khi triển khai thi công là đủ (?).

Dư luận cũng thắc mắc khi chủ đầu tư dự án kéo điện lưới đã chia nhỏ phần khảo sát, thiết kế, lập dự án đầu tư với giá trị thực hiện 6,5 tỷ đồng thành 3 gói thầu để chỉ định cho 2 nhà thầu đảm trách. Các nhà thầu có năng lực đã rất bất bình khi không được tham gia dự án bằng đấu thầu một cách công khai minh bạch.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã làm tốt chức năng của mình ?

Hiện nay có rất nhiều thể loại báo cáo đánh giá tác động môi trường với chất lượng kém, chỉ số không thực tế va nhiều khi vô lý vẫn được phê duyệt 1 cách đều đều. Lỗi do ai , do doanh nghiệp kém ý thức không quan tâm đến tương lai và thế hệ con chau hay chỉ vì lợi nhuận, do các cơ quan chức năng vô trách nhiệm chỉ cần đút chút tiền là được thông qua mà không gặp trở ngại nào.

Động đất xảy ra liên tiếp quanh thủy điện Sông Tranh 2, nhất là trận có cường độ 4,6 độ richter tối 22.10.2012, đã gây hoang mang lo sợ cho dân cư và chính quyền địa phương cũng như cho cả nước.

Dư luận ồn ào về chất lượng báo cáo ĐTM của chủ đầu tư (EVN) vì đã “sao chép cẩu thả” nội dung đánh giá động đất kích thích từ các báo cáo học thuật của những người khác. Nhiều ý kiến cho rằng, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng phải chịu trách nhiệm khi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường này.

Bộ đã phải giải thích. Theo ông Cục trưởng Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường: 1) Việc báo cáo đánh giá tác động môi trường của EVN khẳng định “công trình thủy điện Sông Tranh 2 không gây ra động đất kích thích” là trách nhiệm của EVN (lỗi của chủ đầu tư); 2) Quy định của khoản 3 và khoản 4, Điều 20 Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành luật không có quy định “cụ thể” về báo cáo phải có nội dung đánh giá khả năng xảy ra động đất kích thích. Vì thế, việc đánh giá khả năng xảy ra động đất kích thích không phải là nhiệm vụ của báo cáo đánh giá tác động môi trường. Bộ không có lỗi và EVN cũng chỉ có sơ sót. Hãy xem nguyên văn khoản 3 của Điều 20 mà ông cục trưởng viện đến: “Đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực hiện và các thành phần môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội chịu tác động của dự án; dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra”. Không thể vin vào cớ không có quy định “cụ thể” để lẩn trách nhiệm!

Rồi dư luận lại hết sức ngạc nhiên về báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Báo cáo thứ nhất mà chủ đầu tư- Tập đoàn Đức Long Gia Lai- thuê Viện Quy hoạch thủy lợi thực hiện cũng bị phát hiện là đã “sao chép cẩu thả” từ các tài liệu khác. Chủ đầu tư phải thuê đơn vị thứ hai- Viện Môi trường và Tài nguyên (Đại học Quốc gia TPHCM)- làm báo cáo khác. Báo cáo mới này được cho là kỳ lạ vì “những tác động tiêu cực” được coi là nhỏ- mất 137ha rừng so với tổng diện tích 71.000ha của Vườn quốc gia Cát Tiên, được báo cáo này cho là không đáng kể (trong khi mất từ 50ha trở lên phải có quyết định của Quốc hội); nước ngập ở vườn quốc gia tạo “điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt hơn” cho cây cối. Đúng là ngược đời.

Còn có thể nêu ra bao nhiêu thí dụ nữa về chất lượng của các báo cáo đánh giá tác động môi trường của hàng ngàn, hàng vạn dự án khác; chắc hẳn chất lượng cũng “cao” như của hai thí dụ điển hình trên. Có lý do đơn giản, rất dễ hiểu về hiện tượng này.

Có lẽ đấy chính là (Điều 18) của Luật Bảo vệ môi trường quy định các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (đối với các dự án phải lập báo cáo). Các chủ đầu tư có thể tự mình hay thuê tổ chức tư vấn lập làm báo cáo. Điều quan trọng nhất là chủ đầu tư phải bỏ tiền ra làm hay thuê tổ chức khác làm báo cáo ĐTM.

Lợi ích của chủ đầu tư là dự án của mình được chấp thuận, và chủ đầu tư có động lực mạnh mẽ để đánh giá thấp các tác động có hại về môi trường (có thể gọi đấy là ''khuyến khích ngược'').

Chủ đầu tư nào cũng vậy, dẫu là doanh nghiệp nhà nước như EVN hay doanh nghiệp tư nhân như Đức Long Gia Lai trong hai thí dụ trên. Cũng không nên trách họ, mà phải đối mặt với thực tế này và đề ra các quy định khiến cho các lợi ích và động lực ấy của chủ đầu tư không thể ảnh hưởng (hay ảnh hưởng ít nhất) đến chất lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường, để cho báo cáo thật sự khách quan và trung thực. Đấy là nhiệm vụ của các nhà lập pháp.

Khi lợi ích và động lực của chủ đầu tư đã thế và họ phải bỏ tiền ra tổ chức làm báo cáo đánh giá tác động môi trường, thì hỏi có tư vấn nào lại đi ngược với mong muốn của người bỏ tiền ra thuê mình. Đấy là thực tế, dẫu có hô hào sự khách quan trung thực đến đâu (dẫu có buộc họ phải “chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường”) cũng khó cưỡng lại động lực và lợi ích. Do đó, cần đối mặt và giảm bớt ảnh hưởng của nó. Đáng tiếc Luật Môi trường không chú ý đúng đến thực tế này. Tuy có việc thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 22), có sự phản hồi của những người bị ảnh hưởng và có trách nhiệm thực hiện và kiểm tra các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường (Điều 23), nhưng tách được ''khuyến khích ngược'' của chủ đầu tư càng nhiều càng tốt.

Nếu tổ chức làm báo cáo đánh giá tác động môi trường hoàn toàn độc lập (nhất là về tài chính) với chủ đầu tư thì có thể tối thiểu hóa được ảnh hưởng của các ''khuyến khích ngược'' đó và nâng cao chất lượng báo cáo.

Có lẽ luật phải buộc chủ đầu tư bỏ ra một tỉ lệ nào đó (thí dụ 0,1%) của tổng dự toán đầu tư vào một quỹ chung để chi cho việc làm báo cáo đánh giá tác động môi trường và quỹ này cùng những người có thể bị tác động (hay các tổ chức đại diện của họ) đấu thầu tư vấn độc lập làm báo cáo ĐTM. Hoặc chí ít, để những người bị tác động (hay đại diện của họ) thuê tổ chức tư vấn làm một báo cáo đối chứng và cơ quan thẩm định sẽ xem xét cả hai báo cáo ĐTM. Luật phải cũng có quy định nghiêm cấm “sự tác động” của chủ đầu tư đến cơ quan thẩm định, các thành viên hội đồng thẩm định.

Nhìn nhận từ khía cạnh khuyến khích, lợi ích, từ các động lực như thế có thể giúp cơ quan lập pháp tạo ra (hay sửa đổi) các quy định luật hữu hiệu hơn nhiều.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Có báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng thực tế vẫn không đúng ?

Cố vấn đặc biệt của hãng tin tức SSN (New York, Mỹ) đã nêu ra ý kiến của mình để lý giải cho sự yếu kém của qui trình thực hiện đánh giá tác động môi trường ở các nước đang phát triển khu vực châu Á.

Tham nhũng và quản lý yếu kém

Một trong những thách thức lớn đối với quy trình thực thi báo cáo đánh giá tác động môi trường chính là tham nhũng và quản lý yếu kém. Cũng chính vì thế mà việc thực hiện ĐTM ở Thái Lan thường bị chỉ trích là không hợp pháp và thiếu trung thực, thậm chí rất hiếm khi tham vấn ý kiến cộng đồng, dẫn đến các khuyến nghị, đề xuất hay bị lờ đi, trừ trường hợp có khiếu nại. Điều này cũng có thể quan sát được ở Nigeria.

Không chỉ với các doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường, KwaZulu-Natal Wildlife – một tổ chức bảo tồn động vật hoang dã uy tín tầm cỡ quốc tế ở Nam Phi – cũng bị nêu danh khi nói tới bê bối tham nhũng liên quan tới các tổ chức phi chính phủ vì bị coi là dính líu tới tham nhũng khi cản trở quy trình ĐTM bằng cách không tuân thủ khung thời gian phản hồi.

Còn rất nhiều báo cáo đánh giá tác động môi trường bị mua chuộc và thường được dùng để “xoa dịu các cơ quan chính phủ, cộng đồng, khiến họ lầm tưởng rằng mọi thứ đều ổn nhưng thực ra, các tác động nghiêm trọng lên môi trường vẫn đang tiềm ẩn bên trong”.

Nhìn tổng thể thì các nước đang phát triển là nơi còn nhiều yếu kém trong quản lý và thiếu ưu tiên vấn đề tác động môi trường trong các chính sách quốc gia. Nói như tác giả Svetlana Wibourne trong báo cáo Corruption and the Environment (Tham nhũng và Môi trường), thì lãnh đạo các nước đang phát triển “sẵn sàng hy sinh bầu không khí và nguồn nước sạch, đa dạng sinh học và những cánh rừng, trừ phi chúng có thể biến thành lợi ích kinh tế, hỗ trợ các chương trình nghị sự chính trị ngắn hạn cũng như có các lợi ích kinh tế trung hạn” mà không ý thức được rằng việc làm này sẽ châm ngòi cho tham nhũng và gây ra những hậu quả môi trường không ngờ tới trong tương lai.

Chất lượng các báo cáo ĐTM còn thấp

Lý do thứ hai giải thích sự yếu kém của quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường là chất lượng báo cáo thấp và thiếu nhất quán.

Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án trồng mía đường ở đồng bằng Tana (Kenya) là một ví dụ. Báo cáo dài tới 412 trang, sử dụng ngôn ngữ khoa học – kỹ thuật khoa trương với nhiều phương trình hóa học và biểu đồ kinh tế phức tạp, đến các thuật ngữ về loài cũng bằng tiếng Latin. Kiểu báo cáo này thực sự vượt ra khỏi tầm hiểu biết của nhiều lãnh đạo và quan chức địa phương.

Có không ít nguyên nhân lý giải vì sao chất lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường thường thấp nhưng một nguyên nhân quan trọng cần nhắc tới là lượng thông tin và dữ liệu về môi trường mà nhiều báo cáo chuẩn bị quá sơ sài. Bởi “nhu cầu về số lượng báo cáo ĐTM ngày càng nhiều trong khi nguồn dữ liệu cơ sở lại vô cùng ít ỏi đã dẫn tới việc hàng loạt báo cáo ĐTM có chất lượng thấp và ít giá trị” – Ngân hàng Thế giới (WB) nhìn nhận.

Cũng theo Ngân hàng này thì các báo cáo đánh giá tác động môi trường yếu kém chính là sản phẩm của những cán bộ có năng lực và thông tin về môi trường hạn chế.

Cơ chế giám sát lỏng lẻo

Muốn tạo ra các ĐTM hiệu quả và có ý nghĩa chiến lược thì phải có cơ chế giám sát phù hợp. Việc bỏ qua bước này hiện đang là một trong những điểm yếu của quy trình ĐTM.

Thông thường, bản ĐTM mà các cơ quan chính phủ phê duyệt được mặc định đã gồm cả một kế hoạch quản lý môi trường phục vụ hoạt động giám sát. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân như phân bổ kinh phí không đều, thiếu cán bộ thực thi giám sát của chính phủ, thiếu nguồn thông tin – dữ liệu chất lượng, thiếu cam kết từ phía chính phủ về việc triển khai các hoạt động giám sát cùng những ưu tiên mang tính cạnh tranh khác nên các kế hoạch quản lý báo cáo đánh giá tác động môi trường về sau hầu như không được thực hiện.

Để đạt được tín nhiệm, hoạt động giám sát cần đưa vào quy định bắt buộc – bà Clare Harmer nhấn mạnh trong một báo cáo nghiên cứu năm 2005 – vì đây là hoạt động cần thiết giúp xác định đầu ra của ĐTM. Chưa kể từ đây, các bên liên quan có thể rút ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý giá cho những dự án sau. Có như vậy, quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường mới không còn mang tính hình thức.


Quy trình báo cáo đánh giá tác động môi trường hiện đa phần vẫn mang tính hình thức (Ảnh minh họa: EOI)

Năng lực hạn chế

Yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ làm báo cáo đánh giá tác động môi trường đang được đặt ra cấp thiết ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là châu Phi. Nếu có điều kiện, cần khuyến khích các chuyên gia ĐTM cấp quốc gia và khu vực phối hợp làm ĐTM với những người có nhiều kinh nghiệm hơn ở trong hoặc ngoài khu vực.

Mặt khác cũng cần chú trọng xây dựng năng lực cho cơ quan quản lý phê duyệt ĐTM của một số nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu cho thấy, những nước này không đủ khả năng xem xét các báo cáo ĐTM dẫn đến tình trạng tồn đọng nghiêm trọng. Thống kê của WB cho biết, năm 2007, El Salvador bị tồn tới 2.500 báo cáo đánh giá tác động môi trường khiến quy trình ĐTM bị tắc nghẽn.

Để tránh rơi vào tình trạng này, các tổ chức không đủ năng lực nên đầu tư mời các chuyên gia tư vấn độc lập thẩm định ĐTM đi đôi với việc nâng cao trình độ nhân lực.

Cuối cùng, việc thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường chắc chắn sẽ tốn kém cả về tiền bạc và thời gian. Tuy nhiên, quá trình này chắc chắn phải được thực hiện một cách nghiêm túc và không được thỏa hiệp. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Quốc tế về đánh giá tác động/Viện Đánh giá tác động môi trường (IAIA/IEA 1999) thì để có quy trình thực hiện ĐTM tốt, các chính phủ và các bên liên quan cần xây dựng các hình mẫu thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường đảm bảo tính thực tế, chi phí rẻ, có trọng tâm, có sự tham gia của các bên liên quan, thu hút liên ngành và minh bạch.